Xe chưa kịp có biển số, chủ nhân đã vội giết người

Mâu thuẫn được xác định xảy ra sau khi va quẹt xe, người đàn ông vì bị đánh nên đã vung dao đâm đối phương rồi bỏ trốn khỏi hiện trường gây án.

Hôm nay, ngày 16-7, TAND TP HCM đã tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm và tuyên phạt bị cáo Diệp Cẩm Minh (SN 1971, ngụ TP HCM) tủ chung thân về tội “Giết người” do hành vi của mình gây ra.

Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát, vào lúc khoảng 10 giờ ngày 31-10-2018, Minh điều khiển xe máy hiệu Vision đến Đội CSGT Công an quận 5, TP HCM để làm biển số xe. Trong lúc lưu thông trên đường Trần Hưng Đạo B (phường 14, quận 5) thì Minh xảy ra va quẹt với một xe gắn máy khác chạy cùng chiều do anh Nguyễn Minh Phương. Sau va chạm, các bên có xảy ra tranh cãi, vì quá bức xúc nên anh Phương đánh vào đầu Minh rồi bỏ đi.  

Tức giận vì bị đánh, trng lúc cơn giận lên cao, Minh điều khiển xe đuổi theo ép xe anh Phương  vào lề đường. Hai bên lại tiếp tục xảy ra xô xát, trong lúc giằng co, Minh dùng con dao gấp mang theo đâm 1 nhát trúng ngay vào ngực phải của Phương khiến Phương tử vong.

Chiếc xe chưa kịp có biển số, chủ nhân đã vội giết người - Ảnh 1.

Bị cáo Diệp Cẩm Minh tại phiên tòa

Sau khi gây án, Minh vứt dao rồi tẩu thoát. Ngày 1-11-2018, biết tin Phương đã chết, Minh đem xe máy đi cầm lấy 10 triệu đồng để thực hiện ý định bỏ trốn nhưng 5 ngày sau, vào ngày 6-11-2018, Minh bị Cơ quan điều tra Công an TP HCM bắt.

Tại phiên tòa, sau nhiều lần quanh co chối cãi, Minh đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và cho biết bản thân mắc bệnh hiểm nghèo nên mong được HĐXX xem xét giảm nhẹ tội.

Tuy nhiên, HĐXX xét thấy hành vi của Minh đã phạm vào tội “Giết người” thuộc trường hợp có tính chất côn đồ nên phải nhận mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi.

Xem thêm:

CANH BẠC LẤY CHỒNG HÀN
ÁP DỤNG CƠ CHẾ GHI HÌNH GIÁM SÁT GIAO THÔNG TRÊN TOÀN QUỐC
NHẬN HỐI LỘ, THANH TRA BỘ XÂY DỰNG BỊ KHỞI TỐ

Chế định đặt cọc theo quy định của pháp luật

Hiện nay việc đặt cọc trong giao dịch mua bán được điều chỉnh chung theo tinh thần của Bộ luật dân sự 2015; một số luật chuyên ngành có quy định thêm một vài nội dung liên quan nhưng nhìn chung chúng ta đang bám sát vào điều 328 BLDS 2015 để giải quyết khi có vấn đề phát sinh.

Đã có rất nhiều trường hợp Hợp đồng đặt cọc bị vô hiệu hoá.

Điều 328 BLDS 2015 quy định: 

“1. Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.

2. Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Đi phân tích cụ thể quy định trên, ta kết luận được những nội dung như sau

Đối tượng của đặt cọc

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 358 Bộ luật dân sự năm 2005 thì đối tượng của đặt cọc là “một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác”, là những vật có giá trị hoặc các vật thông thường khác mà một bên giao trực tiếp cho bên kia. Để trở thành đối tượng của biện pháp đặt cọc, các tài sản này cũng phải đáp ứng điều kiện theo luật định như: tiền là đối tượng của đặt cọc phải là Đồng Việt Nam; tài sản đặt cọc là kim khí quý, đá quý hoặc các vật có giá trị khác.

Theo đó, tài sản đặt cọc chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp gồm: tiền, kim khí quý, đá quý hoặc các tài sản có giá trị khác mà không bao gồm các quyền tài sản, bất động sản như trong các biện pháp bảo đảm khác. Các tài sản là đối tượng của biện pháp đặt cọc phải thuộc sở hữu của bên đặt cọc hoặc có thể thuộc sở hữu của người khác nhưng phải được chủ sở hữu đồng ý bằng văn bản hoặc bằng hình thức nào đó thể hiện sự đồng thuận cho việc sử dụng làm tài sản đặt cọc.

 Mục đích của đặt cọc

Việc đặt cọc có thể chỉ mang mục đích bảo đảm việc giao kết hợp đồng, có thể chỉ mang mục đích bảo đảm việc thực hiện hợp đồng nhưng cũng có thể mang cả hai mục đích đó.

Mục đích này do các bên tự thỏa thuận và có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định hiệu lực của đặt cọc. 

Hình thức của đặt cọc

Việc đặt cọc phải được thực hiện bằng văn bản, có thể công chứng chứng thực để đảm bảo tính pháp lý (nhưng không là yêu cầu bắt buộc). Như vậy, nếu đặt cọc bằng thỏa thuận miệng thì xem như không có giá trị chứng minh trong mọi trường hợp phát sinh tranh chấp.

Xử lý tài sản đặt cọc

Các trường hợp xử lý đã được nêu rõ trong điều luật. Bộ luật dân sự không quy định rõ mức đặt cọc phải đạt tỷ lệ bao nhiêu so với giá trị hợp đồng. Vấn đề này do các bên tự thỏa thuận, thường sẽ không quá 50% (do thói quen giao dịch).  

Xem thêm:

ĐẶT CỌC VỘI VÀNG – HIỂM HỌA KHÓ LƯỜNG TRONG MUA BÁN NHÀ ĐẤT
CƠ HỘI CHO NGÀNH LOGISTICS VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ KINH TẾ MỞ
CANH BẠC LẤY CHỒNG HÀN

Nhận hối lộ, thanh tra Bộ xây dựng bị khởi tố

Trưởng đoàn Thanh tra Bộ Xây dựng cùng hai thành viên bị cáo buộc đã nhận tiền tại hối lộ tại Vĩnh Phúc để bỏ qua các vi phạm trong quá trình làm nhiệm vụ của các cá nhân này.

Lãnh đạo VKSND tỉnh Vĩnh Phúc đã thông qua quyết định khởi tố vụ án vào ngày 18/6, theo đó khởi tố bị can, tạm giam đối với  bà Nguyễn Thị Kim Anh (trưởng đoàn thanh tra) cùng hai thành viên là ông Đặng Hải Anh và Nguyễn Thuỳ Linh về tội Nhận hối lộ theo điều 354 Bộ luật hình sự 2015.

Thông qua sự đồng ý từ phía Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Vĩnh Phúc, Luật sư Nguyễn Minh Long (đoàn Luật sư Hà Nội) là người sẽ tham gia bào chữa cho bị can Linh, các Luật sư cho hai bị can còn lại cũng được chấp thuận.

Theo kết quả điều tra, ngày 12/6, tại trụ sở UBND huyện Vĩnh Tường, ông Hải Anh bị bắt quả tang khi đang nhận số tiền 90 triệu đồng từ anh Đỗ Ngọc Yên (Phó Giám đốc Công ty Đức Trung). Lúc bị bắt, ông Hải Anh khai rằng việc đưa tiền này nhằm mục đích không giảm trừ khối lượng giá trị của một số hạng mục trong công trình mà Công ty ông Yên thi công.

Cũng trong ngày hôm đó, bà Kim Anh trong khi nhận 68 triệu đồng của ông Trần Hanh (kế toán UBND xã Tân Tiến), nhận 91,5 triệu đồng từ ông Đỗ Mạnh Cường (công chức tài chính kế toán UBND thị trấn Thổ Tang) đã bị bắt quả tang. Mục đích của việc này cũng là nhằm không giảm trừ khối lượng giá trị một số hạng mục mà UBND xã Tân Tiến làm chủ đầu tư, đã tiến hành thi công.

Đồng thời, thông qua việc khám xét nơi làm việc của Đoàn thanh tra tại UBND huyện Vĩnh Tường, cơ quan chức năng tìm thấy nhiều hồ sơ của các đơn vị thi công công trình trên địa bàn và số tiền hơn 335 triệu đồng trong tủ do bà Kim Anh quản lý…

Theo lời khai của ông Trần Hanh thì việc hối lộ xuất phát từ việc hồ sơ chưa đầy đủ, đoàn thành tra nói rằng như vậy là vi phạm Luật Xây dựng và cần phải có “quà” để đoàn có định hướng làm việc.

Rõ ràng trong lời nói và cách làm việc của các cá nhân này đã có sự vòi tiền công khai, đi ngược với những nguyên tắc làm việc đã được quy định. Do đó, ngày 17/6, Thường trực Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã yêu cầu Đảng ủy Công an Trung ương chỉ đạo khẩn trương làm rõ vụ việc của một số cán bộ thanh tra Bộ Xây dựng. Ban cán sự đảng Bộ Xây dựng rà soát việc bổ nhiệm Phó trưởng phòng với bà Kim Anh, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân liên quan nếu có sai phạm; báo cáo kết quả với Ban chỉ đạo trước ngày 30/6.

Theo khoản 2 điều 354 Bộ luật Hình sự thì các cá nhân trên có thể bị áp dụng khung hình phạt từ 7 đến 15 năm tù cho hành vi nhận hối lộ của mình.

Xem thêm:

NGUYÊN NHÂN NHỮNG CƠN SỐT ĐẤT ẢO VÀ PHÂN LÔ BÁN NỀN TRÁI PHÉP
ALIBABA PHÂN PHỐI ‘DỰ ÁN MA’ CHO NHỮNG AI Ở PHÚ MỸ?
TIẾN HÀNH ĐIỀU TRA 29 DỰ ÁN ‘MA’ CỦA ĐỊA ỐC ALIBABA

Thuế Bảo vệ môi trường và nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền”

Trong suốt quá trình hình thành và phát triển của toàn cầu, thực tiễn đã cho thấy giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường tồn tại một mối quan hệ gắn bó, có sự tương tác qua lại lẫn nhau khá mạnh mẽ. Việc tách rời chúng  thành những bộ phận riêng lẻ, hoạt động độc lập là điều không mấy khả thi, bởi lẽ nếu không có môi trường thì sẽ không có đầu vào cho quá trình sản xuất, và hiển nhiên, cũng sẽ không có nơi tiếp nhận mọi đầu ra của hệ kinh tế.

Chính vì mối quan hệ khăng khít ấy, “kinh tế” – “môi trường” vẫn luôn cùng nhau vận hành trong một thực thể không thể tách rời. Tuy nhiên, việc duy trì mối liên hệ ấy chỉ bằng những quy định pháp lý đơn thuần đã dẫn đến nhiều hệ quả bất cập, như: các vấn đề môi trường thiếu nguồn kinh phí, công tác quản lý môi trường cứng nhắc, kém linh hoạt,…Do đó, các công cụ kinh tế đã ra đời để áp dụng  trong quản lý môi trường với vai trò:

  • Tăng hiệu quả chi phí: trong cùng một mục tiêu môi trường, khi sử dụng công cụ kinh tế sẽ cho chi phí thấp hơn so với việc sử dụng công cụ điều hành và kiểm soát.
  • Tăng hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường: các chủ thể phải tính toán xem  sử dụng tài nguyên như thế nào cho hiệu quả và tiết kiệm nhất để không ảnh hưởng tới doanh thu và lợi nhuận.
  • Khuyến khích nhiều hơn cho việc đổi mới.
  • Hành động nhanh chóng và mềm dẻo hơn: có thể được điều chỉnh kịp thời thông qua giá cả thị trường, sử dụng tín hiệu thị trường thường cho những phản hồi nhanh hơn và nắm được tính hiệu quả  của việc thực hiện quản lý sử dụng, quản lý điều hành.

Như vậy, việc kết hợp các yếu tố pháp lý vào trong công cụ kinh tế đã hình thành nên cơ chế vận hành vừa có sự tương trợ vừa có sự đối trọng, kiểm soát lẫn nhau giữa kinh tế và môi trường, cụ thể chính là Thuế Bảo vệ môi trường (BVMT) và nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”.

Theo tác giả Võ Trung Tín: “Người gây ô nhiễm phải trả tiền” là một trong những đặc thù của pháp luật môi trường. Đây là nguyên tắc thể hiện rõ nét nhất biện pháp kinh tế trong bảo vệ môi trường, dùng lợi ích kinh tế tác động vào chính hành vi của các chủ thể theo hướng có lợi cho môi trường. Pháp luật môi trường của nhiều nước sử dụng nguyên tắc này như một trong những cách thức chính nhằm cụ thể hóa sự “trả giá” của những chủ thể gây ra ô nhiễm môi trường.

Qua đây có thể nhận xét sơ bộ rằng, việc thu, chi thuế bảo vệ Môi trường là cơ sở phản ánh tính hiệu quả của việc áp dụng nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” trong công tác quản lý môi trường. Ngoài ra, nguồn thu từ việc đánh thuế Bảo vệ Môi trường (dự kiến tăng) sẽ là quỹ tài chính đáng kể cho việc cải tạo môi trường. Nó cùng các hình thức trả tiền khác trở thành hệ thống công cụ quan trọng cho việc phát huy tối đa nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” trong quá trình bảo vệ và cải thiện môi trường.

Xem thêm:

XỬ LÝ KỊP THỜI VÀ NGHIÊM MINH NHỮNG DỰ ÁN CÓ DẤU HIỆU LỪA ĐẢO
NHỮNG QUỐC GIA CÓ NGUY CƠ BONG BÓNG NHÀ Ở CAO NHẤT THẾ GIỚI
XE CHƯA KỊP CÓ BIỂN SỐ, CHỦ NHÂN ĐÃ VỘI GIẾT NGƯỜI